Nhận xét về giai đoạn ấy, có người lại gọi đó là thời “hiện thực phải đạo”… Đúng, bởi cái đạo ấy chính là cái đạo lý làm người, cái đạo lý xuất phát từ lương tâm và trách nhiệm của người nghệ sĩ chân chính đối với đất nước và dân tộc. Bây giờ, khi cuộc chiến đã lùi xa, cuộc sống đã thay đổi, văn nghệ sĩ đã có thể sáng tạo mọi thể loại, đề tài, tự do bay lượn đến mọi chân trời mơ ước…
Cùng với cánh cửa rộng mở đón nhiều luồng gió văn hóa nước ngoài và chủ trương xã hội hóa, gương mặt văn học nghệ thuật cả nước đã đơm hoa kết trái với nhiều sắc màu, hương vị khác nhau đáp ứng được thị hiếu thưởng thức của mọi tầng lớp xã hội.
Sự đa dạng trong đời sống văn hóa nghệ thuật là lẽ tự nhiên của một dân tộc đang sống trong hòa bình, một đất nước đang phát triển với ước vọng vươn ra ngang tầm thế giới… Văn hóa nghệ thuật được xã hội hóa nghĩa là huy động được tiềm năng sức bật rất lớn trong nhân dân. Các hãng phim tư nhân, sân khấu tư nhân, rạp hát tư nhân, liên kết xuất bản với tư nhân…, tất cả đã tạo nên những sản phẩm nghệ thuật rất đặc thù. Đó là những sản phẩm được làm từ tiền túi rất cụ thể của một cá nhân, vì thế nó phải được tính toán vô cùng rốt ráo để lấy lại đồng vốn và lợi nhuận.
Không có ai bỏ tiền túi ra làm sản phẩm để cầm chắc là sẽ thua, sẽ không bán được… trừ nhà nước. Tất nhiên, với đồng tiền vô cùng chặt chẽ ấy, người nghệ sĩ khi sáng tạo không thể bỏ qua những chi tiết ăn khách, không thể không hướng đến nội dung giải trí ở tầm thấp mà trước đây họ không bao giờ làm.
Từ áp lực thị trường rất nặng đó, người nghệ sĩ đã phải tự mình loại bỏ những ước vọng sáng tạo nghệ thuật mà anh đã thể nghiệm khi làm bằng tiền ngân sách. Và đó chính là câu trả lời cho câu hỏi vì sao hiện nay các tác phẩm giải trí đơn thuần trong mọi loại hình nghệ thuật cả nước đang ào ạt lên ngôi.
Hãy bắt đầu từ phim ảnh, phim truyền hình hầu hết là của các hãng phim tư nhân lấy sóng quảng cáo. Vì thế, rất hãn hữu mới xuất hiện loại phim như Dưới cờ đại nghĩa, Ngọn nến hoàng cung, Ma làng… vì đó là phim làm bằng tiền nhà nước. Vì vậy đương nhiên khán giả không thể chọn lựa thức ăn nào khác hơn là những kiểu lọ lem thời hiện đại: Mùi ngò gai, Tình yêu còn lại, Một ngày không có em, Cô gái xấu xí, Tình yêu pha lê, Cỏ đuôi gà, Chỗ chỉ có một người, Tuổi yêu… Những kịch bản mang hơi hướm Hàn Quốc với những mối tình tay ba tay tư gần như chiếm lĩnh sóng truyền hình. Phim nhựa, màn ảnh rộng gần như chỉ để chiếu tết và đương nhiên cũng là phim hài giải trí: Giải cứu thần chết, Đẹp từng centimét…
Một nghịch lý đến chua xót là những phim được làm bằng tiền tỷ của nhà nước hầu như không thể chiếu ra rạp được. Rạp tư nhân từ chối đã đành, cả rạp nhà nước cũng không màng đến, đó là trường hợp của Rừng đen, Cầu Ông tượng, còn những phim từng được giải thưởng như Trái tim bé bỏng, Sống trong sợ hãi, Chuyện của Pao thì chỉ trụ được mấy ngày rồi đưa vào kho lưu trữ.
Hệ lụy này không phải chỉ ở điện ảnh, bởi các sân khấu sáng đèn hiện nay hầu hết là của tư nhân và tất nhiên các vở diễn ăn khách hiện nay cũng chỉ đặt nặng giải trí với những vở hài kịch và kinh dị: Người vợ ma, Làm người ai làm thế, Quỷ, Sát thủ hai mảnh, Hợp đồng mãnh thú… Ngoại trừ trường hợp hãn hữu của Bí mật vườn Lệ Chi và các vở kịch lịch sử mà IDECAF đã tâm huyết dàn dựng, các vở hài kịch vẫn là tâm điểm ở đây.
Ở lĩnh vực ca nhạc thì những bài hát copy, ca từ dung tục, tình mất, mất tình tràn lan đang là mối lo đáng báo động trên thị trường âm nhạc hiện nay. Nhạc giao hưởng, thính phòng gần như không có chỗ đứng. Không phải chỉ là sự thờ ơ của công chúng mà ngay cả ở các cơ quan chức năng.
Còn nhớ đêm biểu diễn “Tuần lễ các dàn nhạc châu Á” ngày 29-9-2008 tại Nhạc viện Thành phố, một chương trình nhạc giao hưởng của hơn 70 nghệ sĩ biểu diễn báo cáo trước khi đoàn sang Nhật trình diễn giao lưu, nhưng 8 hàng ghế đầu dành cho giấy mời gần như trống vắng (?!). Đó chính là chương trình mà các nghệ sĩ Việt Nam được cả ngàn khán giả Nhật đồng loạt đứng dậy vỗ tay kéo dài hơn 10 phút tại đất nước hoa anh đào.
Dường như chúng ta đang đi từ cực này sang cực khác khi để cho chức năng giải trí lên ngôi và đang loại trừ dần chức năng thẩm mỹ trong văn hóa nghệ thuật. Dẫu biết giải trí là một phần không thể thiếu của nghệ thuật, nhưng nếu như cán cân ấy bị nghiêng quá đà, chỉ tập trung phục vụ cho thị hiếu thấp thì quả là điều không bình thường.
Thế giới nhìn và đánh giá tầm cao văn hóa nghệ thuật của một quốc gia chính là nhìn vào bản sắc, truyền thống và qua trình độ thưởng thức nghệ thuật của quốc gia đó. Nếu chúng ta cứ thả nổi như tình trạng hiện nay thì có lẽ các loại hình văn hóa nghệ thuật Việt Nam chỉ còn lại là những vở diễn, những bộ phim, những bài hát giải trí đơn thuần được đánh giá qua doanh thu và không đọng lại gì trong lòng công chúng ngoài những trận cười cơ học…
Bích Châu
No comments:
Post a Comment